Itrader

Itrader Toà nhà Diamond Flower, số 48 Lê Văn Lương

REVIEW THỊ TRƯỜNG 20/02/2023 - THANH KHOẢN CẢI THIỆN, BIÊN ĐỘ TĂNG TỐTVN-Index đóng cửa tăng 27,38 điểm tương đương 2,58...
21/02/2023

REVIEW THỊ TRƯỜNG 20/02/2023 - THANH KHOẢN CẢI THIỆN, BIÊN ĐỘ TĂNG TỐT

VN-Index đóng cửa tăng 27,38 điểm tương đương 2,58% và chốt ở sát đỉnh cao nhất phiên. Độ rộng ghi nhận 383 mã tăng/42 mã giảm, trong đó ngoài 43 mã kịch trần, thêm 155 cổ phiếu khác tăng từ 2% trở lên. Đây cũng là phiên tăng mạnh nhất kể từ đầu năm 2023.

Xét theo nhóm ngành, cổ phiếu tài chính và bất động sản mạnh nhất. Riêng HoSE đã có 31 cổ phiếu giao dịch từ 100 tỷ đồng trở lên hôm nay, trong đó số nhiều tăng giá kịch trần như VND, HCM, NVL, DIG, VCI và DXG. Ngoài ra, các cổ phiếu ngân hàng, thép cũng có giao dịch rất lớn. Bên mua đẩy giá khá liên tục, thị trường chỉ xuất hiện vài nhịp đi ngang hoặc lùi nhỏ.

Tổng giao dịch khớp lệnh hai sàn cả phiên hôm nay đạt gần 11.937 tỷ đồng, mức cao nhất 13 phiên. Nếu tính cả thỏa thuận, tổng ba sàn đạt 13.649 tỷ đồng, cao nhất kể từ phiên ngày 2/2 vừa qua.

Khối ngoại có phiên bán ròng thứ 4 liên tiếp khi rút đi khoảng 90,6 tỷ đồng phiên này.

Dưới góc độ kỹ thuật, phiên hôm nay đánh dấu sự bứt phả cả về thanh khoản và biên độ sau giai đoạn điều chỉnh và 3 phiên tích lũy thanh khoản thấp. VN-Index xác nhận vượt cả MA10 và MA20 với lực mua chủ động chiếm ưu thế, là tín hiệu tích cực trong ngắn hạn. Chỉ số có thể có nhịp hồi phục lên vùng tiệm cận 1100.

Hành động cho NĐT: có thể gia tăng tỷ trọng lên ngưỡng 50%.
Cổ phiếu khuyến nghị ngày 20/2/2023:
DCM: giá mua 25.8 - 26.4, giá bán mục tiêu: 28-28.5. Cutloss: đóng cửa dưới 24.8
FPT: giá mua 82-83.5, giá bán mục tiêu: 88-90. Cutloss: đóng cửa dưới 80.5
GMD: giá mua 53-54, giá bán mục tiêu: 58, Cutlosss: đóng cửa dưới 51.8
SSI: giá mua 20.5-21, giá bán mục tiêu: 22.5-23. Cutloss: đóng cửa dưới 19.5

12/01/2023

BẢN TIN SÁNG NGÀY 12/01/2023
1. THÔNG TIN VĨ MÔ
• Ngân hàng thế giới giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2023

– Theo Ngân hàng thế giới, do điều kiện kinh tế mong manh, bất kỳ diễn biến bất lợi mới nào, chẳng hạn như lạm phát cao hơn dự kiến, lãi suất tăng đột ngột để kiềm chế lạm phát, sự bùng phát trở lại của đại dịch COVID-19 hoặc căng thẳng địa chính trị leo thang, có thể đẩy nền kinh tế toàn cầu vào suy thoái. Đây sẽ là lần đầu tiên sau hơn 80 năm xảy ra 2 cuộc suy thoái toàn cầu trong cùng một thập kỷ.

– Theo Ngân hàng thế giới, nền kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ tăng trưởng 1,7% vào năm 2023 và 2,7% vào năm 2024. Tăng trưởng suy giảm mạnh dự kiến sẽ lan rộng, với dự báo điều chỉnh giảm đối với 95% nền kinh tế phát triển và gần 70% các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển (EMDE) vào năm 2023. Trong 2 năm tới, tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển được dự đoán ở mức trung bình 2,8% – thấp hơn một điểm phần trăm so với mức bình quân trong giai đoạn 2010-2019. Tại khu vực châu Phi Hạ Sahara – nơi khoảng 60% số người nghèo cùng cực trên thế giới đang sinh sống – tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn 2023-2024 dự kiến chỉ ở mức 1,2%, đây là mức tăng có thể khiến tỷ lệ nghèo tăng chứ không giảm.

– Tăng trưởng ở các nền kinh tế phát triển được dự đoán sẽ chậm lại, từ 2,5% vào năm 2022 xuống còn 0,5% vào năm 2023. Trong 2 thập kỷ qua, sự suy giảm lớn cỡ này thường báo trước một cuộc suy thoái toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, tăng trưởng được dự báo sẽ giảm xuống 0,5% vào năm 2023 – thấp hơn 1,9 điểm phần trăm so với các dự báo trước đó và là mức tăng trưởng thấp nhất ngoài các đợt suy thoái chính thức kể từ năm 1970. Trong năm 2023, tăng trưởng của khu vực đồng Euro dự kiến ở mức 0% – điều chỉnh giảm từ mức dự báo 1,9% trước đó. Tại Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng được dự đoán là 4,3% vào năm 2023 – thấp hơn 0,9 điểm phần trăm so với các dự báo trước. Nếu loại trừ Trung Quốc, tăng trưởng ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển dự kiến sẽ giảm từ 3,8% năm 2022 xuống 2,7% vào năm 2023, phản ánh nhu cầu trên thị trường nước ngoài giảm đáng kể cộng với lạm phát cao, đồng tiền mất giá, điều kiện tài chính thắt chặt hơn và các khó khăn khác ở trong nước. Đến cuối năm 2024, mức GDP ở các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển sẽ thấp hơn khoảng 6% so với mức dự kiến trước đại dịch. Mặc dù dự kiến sẽ ở mức vừa phải, nhưng lạm phát toàn cầu sẽ vẫn cao hơn mức trước đại dịch.

– Báo cáo đưa ra đánh giá toàn diện đầu tiên về triển vọng trung hạn đối với tăng trưởng đầu tư tại các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển. Trong giai đoạn 2022-2024, tổng số vốn đầu tư vào các nền kinh tế này có khả năng tăng khoảng 3,5% mỗi năm—thấp hơn một nửa so với tốc độ tăng trưởng bình quân trong 2 thập kỷ trước. Báo cáo đề xuất một loạt các phương án cho các nhà hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng đầu tư.

2. THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
• Dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục thắt chặt cho vay đầu tư kinh doanh Bất động sản trong năm 2023

– Ngân hàng Nhà nước mới đây đã công bố một số kết quả chính của cuộc điều tra xu hướng tín dụng của các Tổ chức tín dụng. Cuộc điều tra được tiến hành từ ngày 5/12/2022 đến ngày 15/12/2023

– Kết quả điều tra cho thấy, năm 2023, công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục là lĩnh vực có số lượng tổ chức tín dụng dự báo nhu cầu tín dụng “tăng” nhiều nhất, xếp thứ 2 là lĩnh vực xây dựng, tiếp theo là lĩnh vực đầu tư vận tải kho bãi và kinh doanh xuất nhập khẩu.

– Dự báo 6 tháng tới và năm 2023, các tổ chức tín dụng quan ngại mặt bằng rủi ro tín dụng tổng thể tiếp tục tăng nhẹ ở hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ một số lĩnh vực cho vay phát triển nông, lâm, thủy sản, cho vay đầu tư ứng dụng công nghệ cao, cho vay đầu tư công nghiệp hỗ trợ, cho vay công nghiệp chế biến chế tạo được kỳ vọng rủi ro giảm. Hai lĩnh vực được dự báo vẫn tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao nhất là cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán.

– Trong nhóm được khảo sát, chỉ có 19,2% tổ chức tín dụng dự kiến “thắt chặt nhẹ” tiêu chuẩn tín dụng tổng thể của đơn vị mình trong 6 tháng đầu năm 2023 và 20,2% dự báo thắt chặt cho cả năm 2023. Tuy nhiên mức độ thắt chặt đã giảm so với 6 tháng cuối năm 2022 và cả năm 2022. Dự kiến “thắt chặt” chủ yếu diễn ra ở lĩnh vực “Cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản”, “Cho vay kinh doanh tài chính, ngân hàng và bảo hiểm”, khoản vay trung, dài hạn và khoản vay bằng ngoại tệ

– Có thể thấy, cho cả năm 2023, phần lớn các tổ chức tín dụng đều dự báo sẽ giữ nguyên tiêu chuẩn tín dụng (chiếm khoảng 61 – 64%). 16 – 17% dự báo sẽ nới lỏng. Còn lại dự báo sẽ thắt chặt nhẹ. Sở dĩ nguyên nhân dẫn đến dự báo này của các tổ chức tín dụng đến từ mức độ rủi ro của thị trường, rủi ro từ ngành nghề và rủi ro khách hàng, cùng với đó là những thách thức về triển vọng kinh tế trong năm 2023.

3. THỊ TRƯỜNG VỐN
• Thị trường chứng khoán: VNINDEX tiếp tục đi ngang

– Thị trường duy trì sắc xanh xuyên suốt phiên giao dịch 11/01/2023, tuy nhiên lực cầu “dè chừng” dịp cận tết, khiến chỉ số tiếp tục giao dịch trong biên độ hẹp. Kết phiên, VN-Index đóng cửa tại 1.055,76 điểm, tương ứng tăng 2,41 điểm (+0,23 %). Tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 545 triệu đơn vị, tương ứng với hơn 8.858 tỷ đồng về giá trị. Thanh khoản tiếp tục duy trì mức thấp dưới trung bình 20 ngày.

– Phiên hôm nay, ghi nhận 249 mã tăng chiếm ưu thế so với 137 mã giảm. Trong đó, nhóm chứng khoán (SSI, VCI, VND, …), thép (HPG, HSG, NKG, …), … góp phần giữ đà tăng cho chỉ số. Ngoài ra, một vài cổ phiếu vốn hóa lớn: VHM, SAB, CTG, ACB, HPG, … nằm trong top cổ phiếu đóng góp tích cực. Ở chiều ngược lại, các cổ phiếu thuộc nhóm ngành riêng lẻ như: VCB, VNM, EIB, VRE, … là các mã nằm trong top cổ phiếu tác động tiêu cực đến VN-Index.

– Về khối ngoại tiếp tục mua ròng với giá trị hơn 244 tỷ, tập trung mua ròng ở các mã: CTG (+47 tỷ), VHM (+28 tỷ), VIC (+29 tỷ), … Ngược lại, bán ròng ở các mã: VCB (-30 tỷ), VNM (-27 tỷ), DGC (-20 tỷ), …

– VN-Index tiếp tục đi ngang và tăng nhẹ trong phiên giao dịch 11/01/2023 với mức thanh khoản gia tăng so với phiên trước đó nhưng vẫn thấp hơn mức trung bình 20 phiên gần nhất. Điều này cho thấy là tâm lý nhà đầu tư đang nghiêng về việc nghỉ Tết sớm nên dòng tiền lớn vẫn đang đứng ngoài thị trường. Nhà đầu tư dài hạn có thể sẵn sàng cho các cơ hội mua vào cổ phiếu của doanh nghiệp tốt với mức định giá hợp lý trong các nhịp điều chỉnh của thị trường.

• Năm 2023 – Lợi suất trái phiếu chính phủ đối diện nhiều áp lực tăng

– Trong năm 2023, lãi suất huy động và lãi suất cho vay được dự báo còn dư địa tăng, trong đó áp lực lớn nhiều hơn vào thời điểm 6 tháng đầu năm, sau đó lãi suất dự báo đi ngang hoặc thậm chí hạ nhiệt vào nửa cuối năm

– Trong bối cảnh đó, lợi suất trái phiếu chính phủ cũng sẽ chịu nhiều áp lực tăng trong năm 2023, bao gồm ngân hàng trung ương lớn trên thế giới tiếp tục tăng lãi suất. Lãi suất liên ngân hàng cao tiếp tục tăng gây khó khăn về nguồn vốn với nhiều tổ chức tín dụng. Thanh khoản tiếp tục suy giảm khi triển vọng diễn biến giá của các loại trái phiếu kém lạc quan

– Danh mục trái phiếu chính phủ hiện tại đang có kỳ hạn còn lại là 10,02 năm với mức lãi suất trung bình 4,03%/năm. Tuy vậy, trong bối cảnh lãi suất vẫn đang tăng, sẽ rất khó để duy trì được mặt bằng lãi suất và hạn còn lại thấp như năm 2022

– Dự báo lãi suất trái phiếu 10 năm khả năng đạt đỉnh quanh ngưỡng 5,5%/năm với khoảng thời gian đạt đỉnh trong 6 tháng đầu năm. Nửa sau năm 2023, hoàn toàn có thể chứng kiến nhịp giảm của lợi suất trong điều kiện mặt bằng lãi suất ngừng tăng

– Nhìn chung, lãi suất – chi phí đầu vào của nền kinh tế tăng là thông tin không tích cực với nền kinh tế. Tuy nhiên cũng cần lưu ý thêm, xu hướng này cũng đã đang và sẽ được ghi nhận ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Điểm tích cực là việc Ngân hàng nhà nước đã đưa ra thông điệp về việc tiếp tục điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. Trong điều kiện thuận lợi, mặt bằng lãi suất kỳ vọng đạt đỉnh trong nửa đầu 2023, sau đó đi ngang và hạ nhiệt nửa cuối năm 2023.

4. KÊNH TÀI SẢN KHÁC
• Thị trường bất động sản Việt Nam cần trải qua quá trình thanh lọc để phát triển tốt hơn

– Các vấn đề liên quan trái phiếu và các cuộc điều tra có liên quan đang tác động đến thị trường vốn cho bất động sản. Song, chuyên gia của Savills khẳng định cũng giống như bất kỳ quốc gia mới nổi khác trên thế giới, Việt Nam cần phải trải qua quá trình này, chúng ta cần có quy định chặt chẽ hơn để bảo vệ các nhà đầu tư. Do đó, ông cho rằng đây là cách mọi thứ nên được diễn ra. Điều chúng ta cần kỳ vọng là quá trình điều chỉnh sẽ giúp môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện theo hướng minh bạch và phát triển mạnh mẽ hơn. Nhiều quốc gia khác đã trải qua quá trình tương tự nên chắc chắn sẽ gây ra một số vấn đề với kỳ hạn nợ và quá trình trả nợ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ phải tìm đến những nguồn vốn khác trong trung và ngắn hạn. Tuy nhiên, hệ quả này chỉ mang tính chất tạm thời và cuối cùng sẽ được giải quyết để mang lại lợi ích cho toàn bộ thị trường vì nó sẽ minh bạch hơn, quy định chặt chẽ hơn và sau đó sẽ ít vấn đề hơn”, ông phân tích.

– Một vấn đề lớn đối với các chủ đầu tư không có kế hoạch phát triển dài hạn hay dự án trong tương lai. Khi không thể phát triển dự án mới, các chủ đầu tư sẽ gặp vấn đề về dòng tiền kinh doanh.

– Theo chuyên gia Savills Việt Nam, điểm tích cực cần chú ý trong năm vừa qua là Việt Nam đã có quy hoạch cho các tỉnh, quy hoạch tổng thể được Nhà nước phối hợp chỉ đạo rất mạnh mẽ. Điều này cũng sẽ thúc đẩy nhu cầu bất động sản dịch chuyển sang các tỉnh lân cận khác ngoài các đô thị lớn. Chúng ta đã thấy quá trình này đối với TP HCM là Bình Dương, Đồng Nai hay với Hà Nội là Hưng Yên, Bắc Giang… Vì vậy, nhiều điều khả quan đang chờ đợi trong thời gian tới.

– Những thay đổi trong ngắn hạn là cần thiết để thị trường bất động sản Việt Nam phát triển bền vững hơn trong tương lai. Sự chậm lại của thị trường là một khoảng lặng để thanh lọc và sàng lọc, giúp những doanh nghiệp có cơ bản tốt, dòng tiền tốt, tài sản tốt sẽ được hưởng lợi và phát triển thị trường bất động sản hiệu quả hơn.

10/01/2023

BẢN TIN SÁNG NGÀY 10/01/2023
1. THÔNG TIN VĨ MÔ
• Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam 2023 tăng 7,2%
– Ngân hàng Standard Chartered dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ bứt tốc mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,2% trong năm 2023 và 6,7% trong năm 2024, tiếp nối đà hồi phục tăng trưởng 8% của năm 2022.
– Các chuyên gia của ngân hàng này cho rằng, cán cân thương mai có thể được cải thiện, tuy nhiên xuất khẩu có thể sẽ đối mặt với các thách thức toàn cầu, nhập khẩu có nguy cơ giảm. Bên cạnh đó, vốn FDI giải ngân tiếp tục tăng nhưng triển vọng sẽ phụ thuộc vào nền kinh tế toàn cầu. Lạm phát có thể là mối đe dọa đối với sự phục hồi liên tục của Việt Nam. Lạm phát được dự đoán sẽ tăng trong suốt cả năm 2023, đạt khoảng 6% vào những tháng cuối năm và trung bình 5,5% trong cả năm 2023 và 2024 (so với mức 3,2% năm 2022) – cao hơn chỉ tiêu 4,5% mà Việt Nam đặt ra trong năm nay. Thâm hụt tài khóa của Việt Nam có thể kéo dài và là nguồn gốc của lạm phát, theo tổ chức này.
– Ngân hàng Standard Chartered cũng kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tăng lãi suất thêm 100 điểm cơ bản trong quý I và giữ nguyên cho đến cuối năm 2024 nhằm duy trì sự ổn định.
– Standard Chartered cho biết, VND đã phục hồi mạnh trong những tuần gần đây. Tuy nhiên, tốc độ tăng giá của đồng tiền này có thể sẽ chậm lại do ảnh hưởng của nhiều khó khăn còn hiện hữu. Việc bổ sung dự trữ ngoại hối có thể là ưu tiên chính của Ngân hàng Nhà nước. Sự cải thiện của cán cân vãng lai và sự phục hồi du lịch có thể hỗ trợ cho VND. Tỷ giá USD/VND được dự báo đạt 23.400 vào cuối năm 2023 và 23.000 vào cuối năm 2024.
2. THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
• Ngân hàng kỳ vọng tín dụng tăng 13,7% trong năm 2023
– Kết quả khảo sát của NHNN cho thấy, theo đánh giá của các tổ chức tín dụng (TCTD), nhu cầu vay vốn, dịch vụ thanh toán và thẻ, gửi tiền của khách hàng trong quý IV/2022 và năm 2022 tiếp tục cải thiện nhưng chưa đạt được mức kì vọng, trong đó nhu cầu vay vốn được nhận định cải thiện rõ nét nhất, đặc biệt là nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp.
– Các TCTD dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng diễn biến khả quan trong quý I/2023, nhưng tốc độ tăng chậm lại trong năm 2023, trong đó nhu cầu vay vốn được kỳ vọng “tăng” nhiều hơn nhu cầu gửi tiền và thanh toán. Các TCTD nhận định thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý IV/2022 tiếp tục duy trì ở trạng thái tốt, mặc dù có thu hẹp so với quý trước. Thanh khoản năm 2022 – theo các TCTD – không được như kỳ vọng.
– Về huy động vốn, các TCTD kỳ vọng huy động vốn quý I/2023 sẽ tăng bình quân 2,9% và trong năm 2023 sẽ tăng 10%, mức tăng này khiêm tốn hơn kỳ điều tra trước đó. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống TCTD được kỳ vọng tăng bình quân 4% trong quý I/2023 và tăng 13,7% trong năm 2023, điều chỉnh giảm 1,9 điểm phần trăm so với mức kỳ vọng tại kỳ điều tra trước. Nhiều TCTD nhận định tình hình xử lý nợ xấu trong quý IV/2022 có cải thiện nhưng chưa được như kỳ vọng và tiếp tục cải thiện nhẹ trong năm 2023.
– Theo kết quả điều tra, tình hình kinh doanh của nhiều TCTD trong quý IV/2022 có sự ”cải thiện” tốt hơn song không đạt mức kỳ vọng. Tính chung trong năm 2022, 80% TCTD nhận định tình hình kinh doanh tổng thể ”cải thiện” so với năm 2021, 87% TCTD ước tính lợi nhuận trước thuế năm 2022 tăng trưởng dương so với năm 2021, bên cạnh đó, vẫn có 9,3% TCTD ước tính lợi nhuận tăng trưởng âm.
– VNDirect cho rằng, tăng trưởng tín dụng sẽ tiếp tục chậm lại và đạt 11-12% trong năm 2023. Nguyên nhân thứ nhất là do thị trường bất động sản kém khả quan, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại và lãi suất tăng. Nguyên nhân thứ hai khiến tăng trưởng tín dụng chậm lại, theo báo cáo, là do lạm phát dự kiến vẫn sẽ ở mức cao, do mức tăng tiền lương 20,8% (có hiệu lực từ tháng 7/2023) và sự gia tăng ở các dịch vụ như y tế, vận tải công cộng. Căng thẳng thanh khoản cũng là một nguyên nhân làm chậm lại đà tăng trưởng tín dụng. Vào cuối quý 3/2022, các ngân hàng thương mại đều ghi nhận tỷ lệ dư nợ tín dụng trên huy động vốn (LDR) tăng mạnh, một số ngân hàng đã gần chạm ngưỡng quy định (85%).
3. THỊ TRƯỜNG VỐN
• Thị trường chứng khoán: Xu hướng đi ngang tiếp tục được duy trì
– Kết thúc phiên giao dịch 09/01/2023, VN-Index tăng 2.77 điểm (+0.26%), đạt 1,054.21 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm trở lại, khối lượng giao dịch của VN-Index chỉ ghi nhận hơn 475 triệu đơn vị, với giá trị hơn5 ngàn tỷ đồng. HNX-Index ghi nhận khối lượng giao dịch đạt 47.8 triệu đơn vị, với giá trị 755 tỷ đồng.
– Top các mã có ảnh hưởng tích cực đến VNINDEX gồm: VCB, CTG, VNM, HVN,…. Chiều ngược lại, top các mã cổ phiếu có ảnh hưởng tiêu cực đến VNINDEX gồm: VIC, BID, MWG,…
– Khối ngoại mua ròng tổng cộng 537 tỷ đồng trên sàn HOSE, trong đó HPG và CTG là hai mã được mua ròng nhiều nhất. Trái lại, khối ngoại bán ròng mạnh nhất là mã BID,…
– Chỉ số VN-Index tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu tuần với thanh khoản suy giảm so với phiên trước đó và tiếp tục thấp hơn mức trung bình 20 phiên gần nhất. Điều này cho thấy là tâm lý nhà đầu tư đang nghiêng về việc nghỉ Tết sớm nên dòng tiền lớn vẫn đang đứng ngoài quan sát là chủ yếu. Nhìn chung, VN-Index đang gặp khó khăn tại vùng kháng cự mạnh quanh mốc 1.070 điểm khi chưa có nhiều thông tin tích cực hỗ trợ. Chúng tôi cho rằng, về mặt xu hướng VNINDEX vẫn đi trong kênh giá sideway. Ở giai đoạn này, nhà đầu tư trading ngắn hạn trong xu hướng sideway có thể gia tăng cổ phiếu tại các mức hỗ trợ gần và hạ tỉ trọng tại các ngưỡng kháng cự để nâng cao sức mua khi cổ phiếu điều chỉnh. Nhà đầu tư dài hạn có thể sẵn sàng cho các cơ hội mua vào cổ phiếu của doanh nghiệp tốt với mức định giá hợp lý trong các nhịp điều chỉnh của thị trường.
• Giảm áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp trong quý 1/2023
– Theo thống kê của Thương Gia, tháng 12/2022 có gần 43.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp (không bao gồm ngân hàng) đã đáo hạn. Thực tế, giá trị phát hành của các lô trái phiếu này lên tới hơn 56.000 tỷ đồng nhưng đã được các doanh nghiệp mua lại trước hạn gần 13.600 tỷ đồng. Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp còn mua lại trước hạn ngay trong tháng, chỉ vài ngày trước thời điểm đáo hạn.
– Nếu tính về giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn thì lớn nhất thuộc về CTCP Wealth Power (2.880 tỷ) và CTCP Bách Hưng Vương (2.680 tỷ). Hai công ty này thuộc nhóm Masterise nổi đình nổi đám suốt năm 2021 và không có hoạt động mua lại trước hạn. Được biết, đây là 2 lô trái phiếu phát hành vào tháng 12/2021 nhằm huy động vốn để phục vụ cho siêu dự án Global City. Nếu tính quy mô nhóm, lớn nhất phải là VinFast và Vingroup với tổng giá trị trái phiếu đáo hạn là 8.305 tỷ đồng. Trong đó, lô của Vingroup là 2.000 tỷ đồng và đã được mua lại tới 1.500 tỷ đồng vào ngày 19/12.
– Các công ty thuộc nhóm Novaland xếp thứ 2 với giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn là 4.600 tỷ đồng. Trong đó, giá trị phát hành 7.260 tỷ đồng và giá trị mua lại 2.660 tỷ và đều được thực hiện dồn dập trong tháng 12. Riêng, NovaGroup phát hành 4 lô có giá trị 2.500 tỷ đồng trong năm 2019 và 2021 đến hạn vào cuối năm 2022, nhưng đơn vị này đã mua lại trước hạn 1.500 tỷ trọn 3 lô NVLH2122008, NVL2019.200 và NVLH2122015. Bên cạnh đó là trái phiếu của các doanh nghiệp thành viên của NovaGroup như CTCP Đầu tư và phát triển BĐS Thuận Phát, BĐS Đà lạt Valley, Kinh doanh BĐS Thái Bình, Công ty TNHH Thành phố Aqua và CTCP Cao ốc Phương Đông. Đứng thứ 3 phải kể đến là CTCP Bất động sản Greenwich, với giá trị đáo hạn 2.000 tỷ trái phiếu. Lô trái phiếu doanh nghiệp này được phát hành từ tháng 12/2020 với lãi suất 10%/năm.
– Theo thống kê, quý 1/2023 có tổng 40.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn. Con số này chưa bằng giá trị của riêng tháng 12/2022. Do đó, áp lực cho các doanh nghiệp cũng có phần nhẹ nhàng hơn trước. Nhưng các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với một áp lực nặng nề hơn, vì theo Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Ngọc Liêm, Thanh tra Chính phủ đang nắm tình hình để chuẩn bị thanh tra chuyên đề về việc chấp hành pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và sử dụng nguồn tiền từ trái phiếu doanh nghiệp.
4. KÊNH TÀI SẢN KHÁC
• Những nội dung trọng tâm lấy ý kiến Luật Đất đai sửa đổi
– Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đề xuất nhiều chính sách mới, quan trọng để khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy nguồn lực đất đai đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Một số đề xuất đáng lưu ý:
– Hoàn thiện các quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
– Hoàn thiện cơ chế xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường: Hoàn thiện cơ chế xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường, các cơ chế kiểm tra, giám sát của Trung ương và Hội đồng nhân dân trong việc xây dựng bảng giá đất. Bổ sung, hoàn thiện các quy định bảo đảm công khai, minh bạch như: Công khai giá đất, giao dịch qua các sàn giao dịch đối với các dự án khu dân cư, khu đô thị, nhà ở thương mại.
– Quy định mức thuế cao hơn đối với người sử dụng nhiều diện tích đất: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính về đất đai bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư; có cơ chế điều tiết hợp lý, hiệu quả nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giữa Trung ương và địa phương; điều tiết chênh lệch địa tô, bảo đảm công khai, minh bạch.
– Hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất: Quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
– Đổi mới và nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã quy định khoanh định, bố trí không gian sử dụng đất theo 3 khu vực gồm khu vực quản lý nghiêm ngặt, khu vực hạn chế và khu vực được chuyển mục đích sử dụng đất.
– Trong những nội dung trên, việc “thực hiện giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất” đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. Bởi đây là lý do khiến nhiều dự án bất động sản đang để treo do chưa thể hoàn thiện giải phóng mặt bằng. Dự kiến đến giữa 2024 khi Luật đất đai có hiệu lực và phải mất thêm 3 năm để triển khai các dự án thì nguồn cung bất động sản mới trở nên phong phú và đa dạng hơn.

08/12/2022

BẢN TIN SÁNG NGÀY 8/12/2022
1. THÔNG TIN THẾ GIỚI
• Trung Quốc: Xuất nhập khẩu tháng 11 giảm mạnh hơn dự báo

– Theo dữ liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, trong tháng 11/2022, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm 8,7%, xuống còn 296 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu đã giảm 10,6%, xuống còn 226,2 tỷ USD. Đây là mức giảm mạnh hơn so với những dự báo trước đó của các nhà phân tích lần lượt là giảm 1,5% và 4,16%.

– Tổng thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 69,84 tỷ USD trong tháng 11/2022, giảm mạnh so với mức 85,15 tỷ USD trong tháng 10.

– Zhang Zhiwei, nhà kinh tế trưởng tại Pinpoint Asset Management cho biết nhập khẩu và xuất khẩu giảm trong tháng 11 vừa qua là do nhu cầu bên ngoài suy yếu và dịch COVID-19 bùng phát làm gián đoạn các hoạt động kinh tế ở Trung Quốc.

• Giá dầu thế giới xuống thấp nhất kể từ đầu năm 2022

– Chốt phiên giao dịch 7/12, dầu thô Mỹ WTI giảm 2,79% về 72.49 USD một thùng – thấp nhất kể từ tháng 12/2021.

– Dầu Brent hôm qua cũng giảm 2,82%, về 77,49 USD một thùng – thấp nhất kể từ tháng 1/2022. Loại dầu này đã mất giá gần 41% kể từ khi chạm 131 USD một thùng hồi tháng 3/2022 do xung đột Nga – Ukraine.

– Nỗi lo suy thoái vẫn đang tác động lên các thị trường, từ chứng khoán đến dầu. Bên cạnh đó, Liên minh châu Âu (EU) hôm 5/12 áp lệnh cấm nhập khẩu dầu Nga qua đường biển, trần giá dầu 60 USD của phương Tây cũng có hiệu lực. Đây được cho là nguyên nhân khiến giá dầu WTI và Brent giảm 3 phiên liên tiếp.

– Bất chấp giá năng lượng thế giới giảm, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) vẫn giữ nguyên kế hoạch sản xuất, thay vì giảm thêm nguồn cung.

2. THÔNG TIN VĨ MÔ VIỆT NAM
• Tháng 11/2022, tài khoản chứng khoán mở mới thấp nhất trong 21 tháng

– Theo số liệu từ Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), nhà đầu tư trong nước đã mở mới 88.479 tài khoản chứng khoán trong tháng 11, giảm nhẹ so với tháng trước. Trong đó, nhà đầu tư cá nhân mở mới 88.334 tài khoản và các tổ chức mở mới 145 tài khoản. Đây là lượng tài khoản mở mới của nhà đầu tư nội thấp nhất kể từ tháng 2/2021 và là tháng thứ 6 liên tiếp sụt giảm.

– Bên cạnh đó, trong tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đã mở mới 216 tài khoản, tăng 24% so với tháng trước đó. Đây là tháng thứ 2 liên tiếp số lượng tài khoản mở mới của khối ngoại có sự gia tăng sau khi bất ngờ đóng bớt tài khoản trong tháng 9. Về cơ cấu, nhà đầu tư cá nhân mở mới 199 tài khoản trong khi tổ chức mở mới 17 tài khoản trong tháng 11. Thời điểm 30/11/2022, nhà đầu tư nước ngoài có tổng cộng 42.458 tài khoản.

• Kho bạc đã phát hành hơn 182 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ

– Tính đến hết tháng 11/2022, Kho bạc Nhà nước đã phát hành được 182,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, đạt 45,6% kế hoạch Bộ giao và 84,75% kế hoạch dự kiến điều chỉnh là 215 nghìn tỷ đồng. Kỳ hạn phát hành bình quân là 12,81 năm, kỳ hạn còn lại bình quân là 9,07 năm và lãi suất bình quân năm 2022 là 3,25%.

– Qua đánh giá khả năng thu chi giải ngân cả năm 2022, Bộ Tài chính đang xem xét điều chỉnh nhu cầu vay năm 2022, trong đó dự kiến quý 4/2022 thông qua kênh trái phiếu Chính phủ sẽ phát hành khoảng 100 nghìn tỷ đồng, tương ứng với nhiệm vụ cả năm khoảng 215 nghìn tỷ đồng.

3. THÔNG TIN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
• DPM: Lợi nhuận cao kỷ lục, Đạm Phú Mỹ dự kiến nâng tỷ lệ cổ tức lên 70%

– Ngày 27/12 tới đây, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí-CTCP (HOSE: DPM) sẽ tổ chức họp ĐHĐCĐ bất thường năm 2022. Trong đó, nội dung đáng chú ý là việc doanh nghiệp sẽ trình cổ đông thông qua việc điều chỉnh kế hoạch cổ tức năm 2022.

– Cụ thể, vào tháng 6 vừa qua, Đạm Phú Mỹ đã thông qua tỷ lệ chi cổ tức năm 2022 là 50% vốn điều lệ (tương ứng 5.000 đồng/cp). Dù vậy, 9 tháng đầu năm 2022, công ty thu về 13.906 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 5.435 tỷ đồng, gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2021. Trước kết quả kinh doanh trong 3 quý đầu năm, Đạm Phú Mỹ đã quyết định chi trả cổ tức cao hơn kế hoạch với 70% vốn điều lệ (tương ứng một cổ phần được nhận 7.000 đồng/cp).

4. NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
– Phiên giao dịch ngày hôm qua, VNINDEX dao động nhẹ quanh mốc tham chiếu trong phiên sáng. Áp lực bán gia tăng trong phiên chiều khiến chỉ số giảm điểm nhẹ. VNINDEX đóng cửa tại 1.041,02 điểm, giảm 7,67 điểm (-0,73%).

– Trên sàn HOSE, có 101 mã tăng, 360 mã giảm và 46 mã đứng giá. Trong đó có 60 mã giảm sàn. Thanh khoản có sự sụt giảm, đạt hơn 14.043 tỷ đồng.

– Tác động tiêu cực đến VNINDEX gồm VCB, GAS và VPB với mức tác động lần lượt là -1,78 điểm, -1,29 điểm và -1,18 điểm. Chiều hỗ trợ chỉ số có VIC (+4,4 điểm), VHM (+0,54 điểm) và (+0,42 điểm).

– Chỉ có 2 nhóm ngành ghi nhận sắc xanh nhẹ là Bất động sản (+0,86%) và Công nghệ thông tin (+0,21%). Nhóm ngành giảm mạnh có Nguyên vật liệu (-1,92%), Công nghiệp (-1,89%) và Tài chính (-1,7%). Các nhóm ngành còn lại có mức giảm từ 0,03% – 1%.

– Khối ngoại đã gia tăng giá trị mua ròng lên hơn 1.000 tỷ đồng, cụ thể họ mua VIC (+297,66 tỷ đồng), VHM (+119,11 tỷ đồng) và STB (+83,02 tỷ đồng). Chiều bán ròng của khối này tập trung vào VCB (-36,24 tỷ đồng), CEO (-16,96 tỷ đồng) và GAS (-14,83 tỷ đồng).

– Áp lực bán hiện vẫn đang chiếm ưu thế, đà giảm có sự chững lại nhẹ bởi có dòng tiền tham gia ở những cổ phiếu vốn hóa lớn.

– Đối với nhà giao dịch ngắn hạn, hạn chế giải ngân mở vị thế, quan sát diễn biến tiếp theo của thị trường, cân nhắc hạ tỷ trọng nếu áp lực bán gia tăng mạnh.

07/12/2022

BẢN TIN SÁNG NGÀY 7/12/2022
1. THÔNG TIN THẾ GIỚI
• Fitch Ratings hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2023
– Ngày 5/12, Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch Ratings đã hạ dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu năm 2023 xuống 1,4% từ mức 1,7% trước đó.
– Fitch cũng giảm dự báo tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ năm 2023 từ mức 0,5% xuống còn 0,2% “bởi tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ gia tăng.”
– Dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2023 cũng giảm từ 4,5% xuống còn 4,1% do “triển vọng phục hồi xây dựng nhà ở suy yếu.”
– Dự báo tăng trưởng của khu vực đồng Euro (Eurozone) năm 2023 đã được điều chỉnh tăng từ mức 0,1% lên 0,2% do cuộc khủng hoảng khí đốt ở châu Âu dịu bớt, song việc Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất mạnh hơn sẽ gây áp lực lên nhu cầu.
– Cũng theo báo cáo của Fitch Ratings, lãi suất cơ bản do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ấn định được dự đoán sẽ đạt đỉnh ở mức 5% và trong trường hợp của ECB là 3%.
• Châu Âu đã cắt giảm 24% nhu cầu khí đốt trong tháng 11
– Theo dữ liệu từ công ty phân tích thị trường hàng hoá cơ bản ICIS cho thấy nhu cầu khí đốt trong Liên minh châu Âu (EU) giảm 24% trong tháng 11 so với bình quân của tháng này trong 5 năm trở lại đây. Trước đó, nhu cầu khí đốt của khu vực này cũng giảm tương tự trong tháng 10.
– Từ khi chiến tranh Nga-Ukraine nổ ra, các nước châu Âu đã nỗ lực cắt giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch Nga bằng cách tìm kiếm các nguồn thay thế, kết hợp với điều chỉnh để hạn chế nhu cầu. Nỗ lực cắt giảm nhu cầu khí đốt đã đưa dự trữ khí đốt của EU đạt 95% công suất vào giữa tháng 11, gần mức cao nhất mọi thời đại – theo dữ liệu từ Cơ quan Hạ tầng Khí đốt châu Âu (GIE).
– Ngoài ra, việc EU nhập khẩu LNG nhiều chưa từng thấy cũng là một nhân tố quan trọng giúp củng cố dự trữ. Dữ liệu của ICIS cho thấy châu Âu và Anh nhập 11,14 triệu tấn LNG trong tháng 11, mức nhập kỷ lục trong 1 tháng, và dự kiến nhập 12,2 triệu tấn LNG trong tháng 12.
2. THÔNG TIN VĨ MÔ VIỆT NAM
• Phấn đấu tăng trưởng GDP khoảng 7,0%/năm giai đoạn 2021 – 2030
– Chiều 6/12/2022, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam truyền đạt chuyên đề về “Định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”.
– Phó Thủ tướng nêu rõ, về mục tiêu cụ thể, Đề án xác định phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả nước bình quân đạt khoảng 7,0%/năm giai đoạn 2021-2030. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD. Quy mô dân số đến năm 2030 đạt khoảng 105 triệu người.
– Về giáo dục, đặt mục tiêu nước ta thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu Á. Tỷ lệ sinh viên đại học đạt 260 trên 1 vạn dân. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 – 40%.
– Về y tế, quy hoạch tổng thể quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, đạt 35 giường bệnh và 19 bác sĩ trên 1 vạn dân; tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 15%.
3. THÔNG TIN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
• HPG: Tiêu thụ thép Hòa Phát tháng 11 giảm 30% so cùng kỳ năm trước
– Tháng 11/2022, Tập đoàn Hòa Phát (HOSE: HPG) đã sản xuất 384.000 tấn thép thô, giảm 43% so với cùng kỳ 2021. Bán hàng các sản phẩm thép đạt 443.000 tấn, giảm 30% so với tháng 11 năm trước. Trong đó, thép xây dựng đóng góp 252.000 tấn, tăng 20% so với tháng 10 và giảm 7% so với cùng kỳ. Thép cuộn cán nóng (HRC) đạt 180.000 tấn, giảm 12% so với cùng kỳ.
– Nguyên nhân chính dẫn đến tổng lượng tiêu thụ giảm xuống mức thấp nhất từ đầu năm là do nhu cầu thị trường trong và ngoài nước với các sản phẩm thép chưa được cải thiện. Tiêu thụ thép xây dựng trong nước phục hồi nhẹ so với tháng trước nhưng thị trường xuất khẩu giảm hơn 70% so với cùng kỳ.
– Lũy kế 11 tháng, Tập đoàn Hòa Phát đã sản xuất 7 triệu tấn thép thô, giảm 6% so với 11 tháng 2021. Tiêu thụ thép xây dựng, phôi thép, HRC đạt hơn 6,6 triệu tấn, cùng giảm mức 6%, chủ yếu do không có đơn hàng xuất khẩu phôi thép như năm trước. Trong đó, thép xây dựng chiếm 3,9 triệu tấn, tăng 11%, HRC đạt gần 2,5 triệu tấn, tăng 6% so với cùng kỳ.
4. NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
– Trong phiên giao dịch ngày hôm qua, áp lực bán gia tăng mạnh ở phiên chiều khiến VNINDEX đóng cửa thấp nhất phiên tại 1.048,69 điểm, giảm 44,98 điểm (-4,11%).
– Trên sàn HOSE có 87 mã tăng, 391 mã giảm và 31 mã đứng giá. Trong đó có 83 mã giảm sàn. Thanh khoản có sự gia tăng, đạt hơn 23.533 tỷ đồng.
– Tác động tiêu cực đến VNINDEX gồm VCB, VHM và BID với mức tác động lần lượt là -5,93 điểm, -3,6 điểm và -2,7 điểm. Chiều hỗ trợ chỉ số có VHC (+0,21 điểm), DCM (+0,16 điểm).
– 10 nhóm ngành chìm trong sắc đỏ, trong đó giảm mạnh nhất là Tài chính (-5,41%), Nguyên vật liệu (-5,14%), Tiêu dùng (-4,93%) và Bất động sản (-4,5%). Các nhóm ngành còn lại có mức giảm từ 1,3% – 3,7%.
– Khối ngoại vẫn duy trì vị thế mua ròng nhưng giá trị mua ròng đã giảm, đạt hơn 782 tỷ đồng. Cụ thể họ mua SSI (+151,67 tỷ đồng), VHM (+134,09 tỷ đồng) và FUEVFVND (+97,95 tỷ đồng). Chiều bán ròng của khối này có DCM (-39,5 tỷ đồng), VRE (-19,73 tỷ đồng) và VSC (-13,48 tỷ đồng).
– Áp lực bán chốt lời khiến các cổ phiếu trụ chìm trong sắc đỏ và dần lan tỏa trên diện rộng khiến VNINDEX giảm sâu.
– Đối với nhà giao dịch ngắn hạn, hạn chế giải ngân mở vị thế, cân nhắc hạ tỷ trọng với những cổ phiếu đang chịu áp lực bán lớn.

Address

48Lê Văn Lương
Hanoi

Telephone

+84858855623

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Itrader posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share