LST Consulting

LST Consulting Thành lập năm 2021, LST Consulting hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và hoạch định tài chính cá nhân.

PHẦN 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG NƯỚCKết thúc năm 2022, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP là 8,02%, lạm phát cả năm bình quân 3.1...
31/01/2023

PHẦN 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG NƯỚC

Kết thúc năm 2022, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP là 8,02%, lạm phát cả năm bình quân 3.15% (với mục tiêu đề ra là 4.0%), đồng thời VND chỉ mất giá 3.4% so với USD và là một trong những đồng tiền có mức giảm giá so với USD thấp nhất trong năm vừa qua.
Tuy vậy, về cuối năm, chúng ta đang cảm nhận rõ hơn những dấu hiệu suy giảm của nền kinh tế, của hoạt động kinh doanh, thương mại từ thị trường xuất khẩu tới nội địa. Năm 2022 đã kết thúc với đầy rẫy những khó khăn và năm 2023 thì đang mang tới cho chúng ta nhiều nỗi ưu tư.

NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM TRONG NĂM 2023Năm 2022 vừa qua là một năm với đầy những sự kiện và biến động gây tá...
30/01/2023

NHỮNG VẤN ĐỀ NHÀ ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM TRONG NĂM 2023

Năm 2022 vừa qua là một năm với đầy những sự kiện và biến động gây tác động lớn đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp, ở cả trong nước và trên thế giới.
Sau đây là một số vấn đề mà chúng tôi cho rằng sẽ tiếp tục là những ẩn số cần theo dõi sát sao trong năm 2023.

PHẦN 1: CÁC VẤN ĐỀ TRÊN THẾ GIỚI

LẠM PHÁT, SUY THOÁI VÀ THỊ TRƯỜNG GIÁ XUỐNG - 6 BIỂU ĐỒ CHO NHÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠNCác số liệu được lấy từ thị trường Mỹ.Nguồ...
28/12/2022

LẠM PHÁT, SUY THOÁI VÀ THỊ TRƯỜNG GIÁ XUỐNG - 6 BIỂU ĐỒ CHO NHÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN
Các số liệu được lấy từ thị trường Mỹ.

Nguồn: LST Consulting tổng hợp

FED TIẾP TỤC TĂNG LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH CỦA VIỆT NAM--------------1. FED tăng lãi suất thêm 0,75%Ngày 21/9, s...
26/09/2022

FED TIẾP TỤC TĂNG LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH CỦA VIỆT NAM
--------------
1. FED tăng lãi suất thêm 0,75%

Ngày 21/9, sau cuộc họp kéo dài 2 ngày, Cục dự trữ Liên bang Mỹ FED đã quyết định tăng lãi suất thêm 0,75%, đẩy lãi suất mục tiêu lên trong khoảng 3 – 3,25%, mức cao nhất kể từ tháng 1/2008. Một số thông tin đáng chú ý khác được FED phát đi như sau:

• Lãi suất mục tiêu mà FED hướng tới vào cuối năm 2022 là 4,25 – 4,5%, cao hơn 1,25% so với hiện tại. Điều đó có nghĩa là với 2 lần tăng lãi suất còn lại từ nay tới cuối năm, sẽ còn ít nhất một lần nâng lãi suất với mức độ tương đương 3 lần tăng 0,75% vừa qua.

• Lãi suất mục tiêu sẽ đạt đỉnh trong khoảng 4,5 – 4,75% vào năm 2023.

• FED dự kiến sẽ không giảm lãi suất trước năm 2024.

• FED dự báo lạm phát tại Mỹ sẽ không thể giảm nhanh, mà tới năm 2025 mới có thể quay về mức mục tiêu 2%.

Đây không phải là những thông tin gây bất ngờ cho thị trường tài chính toàn cầu. FED tiếp tục khẳng định quyết tâm trong việc tăng và duy trì lãi suất cao cho tới khi họ chắc chắn lạm phát tại Mỹ đã được kiểm soát, dù việc này sẽ gây ra một số tổn thất cho nền kinh tế.

Dù vậy, thông tin FED dự kiến không cắt giảm lãi suất trước năm 2024 có thể đã gây thất vọng cho một số nhà đầu tư – những người kỳ vọng việc cắt giảm lãi suất sẽ diễn ra sớm hơn, có thể vào đầu năm 2023. Các chỉ số chứng khoán chính tại Mỹ là Dow Jones Industrial, S&P 500 và Nasdaq Composite đều giảm 3 phiên liên tiếp từ ngày 21/9, với tổng mức giảm lần lượt là 3,6%, 4,2% và 4,9%.

Thông tin từ cuộc họp của FED đã đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ thời hạn 2 năm tăng lên mức 4,2%, cao nhất kể từ năm 2007, do đó có thể đã hút dòng tiền ra khỏi thị trường cổ phiếu.

Chỉ số dollar Mỹ DXY (U.S. Dollar Index – chỉ số giá của USD so với một rổ ngoại tệ) cũng đã tăng lên mức 113,02 vào ngày 23/9, cao nhất kể từ tháng 1/2002. Như chúng tôi đã nhắc đến trong các bài viết trước, đồng USD mạnh sẽ tạo áp lực lớn lên các nền kinh tế khác, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

• Trong năm 2022, khoảng 90 ngân hàng trung ương trên thế giới đã tăng lãi suất nhằm chống lạm phát và ngăn chặn sự sụt giá của đồng nội tệ so với USD (hình 1).

• Các nền kinh tế mới nổi ở châu Á đã bị rút vốn ròng và dự trữ ngoại hối giảm liên tục từ đầu năm cho tới nay (hình 2).

--------------
2. Chính sách điều hành của Việt Nam

Ngày 22/9, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ra quyết định tăng một loạt lãi suất điều hành thêm 1%, so với các mức trước đó đã được duy trì từ tháng 10/2020. Đây được cho là một hành động quyết liệt của NHNN nhằm duy trì ổn định tỉ giá VND/USD. Với nền kinh tế có độ mở cao với thương mại quốc tế và phụ thuộc nhiều vào thu hút vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam thì giữ ổn định tỉ giá là một vấn đề rất quan trọng.

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam được đánh giá là nước có nền tảng kinh tế vĩ mô thuộc nhóm ổn định nhất thế giới. Việc này tạo điều kiện cho NHNN sử dụng linh hoạt chính sách tiền tệ trong kiểm soát tỉ giá và lạm phát. Tuy vậy, động thái của FED ngày 21/9 là rủi ro với VND, có thể gây áp lực rất lớn lên tỉ giá nếu vốn đầu tư nước ngoài bị rút và tình trạng găm giữ ngoại tệ bùng nổ trở lại như đã từng diễn ra trong giai đoạn 2007 – 2010.

Có thể thấy mục tiêu của NHNN là cố gắng giữ tỉ giá ổn định nhất có thể, nhưng sẽ điều chỉnh để tỉ giá trượt dần khi áp lực quá lớn, thay vì bằng mọi giá neo cố định tỉ giá. Với viễn cảnh chính sách điều hành của FED như trên và những bất ổn địa chính trị thế giới, việc cố thủ chặt vào một mức tỉ giá nhất định có rủi ro rất lớn bởi nếu thất bại, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ chịu một cú sốc mạnh với vòng xoáy lạm phát và tỉ giá mà NHNN không còn giữ thế chủ động để ứng phó.

Việc FED có thể tăng lãi suất điều hành thêm 1,25% cho tới cuối năm sẽ tiếp tục tạo sức ép rất lớn lên tỉ giá VND/USD. Do vậy, trong thời gian tới, chúng ta vẫn sẽ phải theo dõi sát chính sách điều hành của NHNN (như lãi suất điều hành hay hạn mức tăng trưởng tín dụng – những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thị trường chứng khoán) để có thể ra quyết định phù hợp và kịp thời.

--------------
Nguồn: LST Consulting

VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG ĐẦU TƯ--------------Có một nguyên tắc đầu tư rất thường được nhắc đến đó là: Vàng là công cụ hữu ...
21/09/2022

VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG ĐẦU TƯ
--------------
Có một nguyên tắc đầu tư rất thường được nhắc đến đó là: Vàng là công cụ hữu ích để chống lại lạm phát, và cũng là một nơi trú ẩn an toàn để bảo toàn giá trị bởi tính ổn định của nó, đặc biệt là trong những giai đoạn hỗn loạn, nhiều biến động. Nói một cách đơn giản, khi lạm phát tăng thì giá vàng được kỳ vọng sẽ tăng theo tương ứng để bảo toàn giá trị (sức mua hàng hóa) cho người nắm giữ vàng. Nguyên tắc này còn đặc biệt phổ biến ở Việt Nam, nơi mà phần lớn người dân vẫn coi vàng là một tài sản bắt buộc phải tích trữ.

Tuy vậy, dựa vào những dữ liệu trong quá khứ (ở thị trường Mỹ), chúng tôi cho rằng nguyên lý trên dễ gây nhầm lẫn và có thể làm giảm hiệu quả đầu tư trong dài hạn.
------
1. Vàng là một loại hàng hóa thông thường, như nhiều kim loại khác và không thể đóng vai trò là một nơi trú ẩn an toàn trong những giai đoạn hỗn loạn.

Hiện nay, rất nhiều nước đã ghi nhận lạm phát cao nhất trong nhiều thập niên, thị trường chứng khoán suy giảm (bear market), lợi suất trái phiếu tăng (trái phiếu trượt giá), nguy cơ suy thoái kinh tế và biến động địa chính trị lan rộng từ cuộc chiến tranh Nga – Ukraine. Đây là một bối cảnh điển hình để vàng phát huy vai trò làm nơi trú ẩn an toàn cho nhà đầu tư.

Đầu năm 2022, Nga đã khơi mào cuộc chiến tranh với Ukraine và nỗi lo sợ về lạm phát bao trùm khắp nơi. Vào ngày 8/3, vàng đã tăng 12,9% trong khi chứng khoán toàn cầu giảm 13,2% (chỉ số MSCI World Index) so với đầu năm. Có vẻ như vàng đang làm tốt vai trò của mình.

Tuy nhiên, từ đó cho tới nay, trong khi bối cảnh kinh tế - chính trị tiếp tục cho thấy nhiều bất ổn, thì giá vàng đã giảm gần 19%, gấp đôi mức giảm 8,9% của chỉ số MSCI World Index (hình 1&2). Không chỉ vàng, chỉ số kim loại công nghiệp và kim loại quý (S&P GSCI Industrial Metals Index và Precious Metals Index) cũng đã giảm 31,8% và 16,8% trong cùng giai đoạn. Điều này cho thấy vàng có thuộc tính của một loại hàng hóa cơ bản, giống như những kim loại khác.
------
2. Vàng không phải là công cụ hữu hiệu để chống lạm phát

Dữ liệu lịch sử (tại Mỹ) cho thấy vàng không phải là một công cụ chống lạm phát đáng tin cậy. Trong nhiều giai đoạn, giá vàng không thể hiện mối tương quan rõ ràng nào với lạm phát (CPI), ví dụ như hai giai đoạn 12/1986 – 12/1990 và 12/2020 – 12/2021 (hình 3&4).

Về dài hạn, vàng cũng không phải là một lựa chọn tốt nhất để bảo vệ và gia tăng tài sản trước tác động của lạm phát. Trong cả giai đoạn hơn 40 năm qua (1975 – 2022), vàng đạt tỉ suất sinh lời bình quân 4,9%/năm, tuy cao hơn mức lạm phát (bình quân 3,6%/năm) nhưng đã có giai đoạn giảm giá kéo dài tới hơn 20 năm (1980 – 2000), trong khi tỉ lệ lạm phát vẫn duy trì ổn định. Cùng giai đoạn này, cổ phiếu (đại diện là chỉ số S&P 500) mang lại tỉ suất sinh lời bình quân 12,4%, cao hơn nhiều so với vàng, đồng thời cũng không trải qua giai đoạn giảm giá nào kéo dài quá 5 năm (hình 5).

Trong vai trò một công cụ để chiến thắng lạm phát, cổ phiếu đã thể hiện tốt hơn nhiều so với vàng với tỉ suất sinh lời cao hơn và ít biến động hơn.
------
Như vậy, dữ liệu lịch sử đã cho thấy vàng không phải một hầm trú ẩn an toàn để bảo toàn tài sản trong những giai đoạn đầy biến động, đồng thời cũng không phải một công cụ đặc biệt hữu hiệu và đáng tin cậy để chống lại lạm phát. Chúng ta nên xem vàng như là một loại tài sản đầu tư thông thường, giống như tất cả các loại hàng hóa cơ bản khác. Khi đó, quyết định có đầu tư vào vàng hay không phụ thuộc vào chiến lược của từng nhà đầu tư tại mỗi giai đoạn thị trường, chứ không còn là một hành động dựa trên những tư duy cứng nhắc nữa.

--------------
Nguồn: Fisher Investment, LST Consulting

ĐỒNG USD MẠNH VÀ NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG NỢ Ở CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN---------------1. Đồng USD mạnh là vấn đề nghiê...
07/09/2022

ĐỒNG USD MẠNH VÀ NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG NỢ Ở CÁC NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN
---------------
1. Đồng USD mạnh là vấn đề nghiêm trọng với các nền kinh tế đang phát triển

Dưới tác động của việc FED tăng lãi suất để chống lạm phát, đồng USD đã tăng giá mạnh, tiếp cận mức cao nhất kể từ năm 1985 (như biểu đồ về norminal effective exchange rate như hình dưới). Điều này đang tạo sức ép rất lớn lên các nền kinh tế khác trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển – những nơi thường có sự phụ thuộc đáng kể vào các khoản vay bằng USD. Các quốc gia này đang đối mặt với chi phí lãi vay tăng chóng mặt và làn sóng vốn đầu tư nước ngoài bị rút ròng, trong khi nỗi lo suy thoái kinh tế vẫn đang thường trực.

Lịch sử đã cho thấy đồng USD mạnh gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho các nền kinh tế đang phát triển:

- Vào những năm 1980, lạm phát ở Mỹ tăng vọt. FED đã phản ứng quyết liệt bằng các chính sách thắt chặt (như tăng lãi suất) khiến đồng USD tăng mạnh. Khi đó, các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn (sau khi đã thu được rất nhiều tiền từ các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979) đã đổ tiền vào các ngân hàng Mỹ nhằm tận dụng lãi suất USD cao. Dòng tiền này cuối cùng đã chảy vào các thị trường Trung và Nam Mỹ dưới hình thức cho vay hợp vốn. Ước tính hơn 50% tổng nợ nước ngoài của các quốc gia này khi đó là bằng USD. Nhiều nước đã phải vật lộn để trả các khoản nợ này do USD tăng giá mạnh, trong khi nền kinh tế của họ đang suy yếu và giá cả hàng hóa sụt giảm.

- Vào giữa những năm 1990, các đợt tăng lãi suất lớn của FED dưới thời chủ tịch Alan Greenspan là tiền đề cho cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mexico. Tiếp sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, bắt đầu từ việc nhà đầu tư bán tháo đồng Bath Thái và các đồng tiền khác mà họ cho là vượt quá giá trị thực (đồng Won của Hàn Quốc, đồng dollar của Hồng Kông, đồng Rupiah của Indonesia…).

2. Quy mô vay nợ đáng lo ngại của các nền kinh tế đang phát triển

Rút ra bài học từ quá khứ, nhiều nền kinh tế đang phát triển đã và đang nỗ lực cải thiện cán cân thanh toán và tăng cường dự trữ ngoại hối để tự bảo vệ mình trước một cuộc khủng hoảng tương tự có thể xảy ra. Hiện tại, một số nước đang đi trước Mỹ trong việc tăng lãi suất nhằm duy trì tỉ giá ổn định cho đồng tiền của họ.

Tuy vậy, các con số dưới đây (do World Bank thống kê) cho thấy quy mô vay nợ của các nền kinh tế này vẫn rất đáng lo ngại:

- Năm 2020, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vay nợ với quy mô tương đương 207% GDP của họ, tăng chóng mặt so với mức 56% vào năm 1970 và 119% vào năm 2010.

- Cùng thời điểm này, các khoản vay bằng ngoại tệ chiếm 25% tổng nợ công của các nền kinh tế mới nổi quan trọng, tăng mạnh so với mức 15% vào năm 2009.

Đại dịch Covid-19 là yếu tố làm vấn đề thêm trầm trọng. Sau khi các NHTW (ngân hàng trung ương) trên khắp thế giới nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế bị tác động bởi dịch bệnh, nhà đâu tư đã ồ ạt đổ tiền về các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển nhằm gia tăng tỉ suất sinh lời. Tính tới cuối tháng 3/2022, tổng các khoản nợ khu vực công và khu vực tư nhân của các nền kinh tế đang phát triển là 98,6 nghìn tỉ USD, tăng 10% so với một năm trước đó (theo IIF – Viện Tài chính Quốc tế).

3. Các nền kinh tế đang phát triển trước nguy cơ vỡ nợ

Trong một báo cáo ra tháng 7/2022, World Bank cảnh báo với quy mô vay nợ, thâm hụt tài khóa và thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức cao, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có nguy cơ kiệt quệ tài chính, kìm hãm sự phục hồi của họ sau đại dịch.

Đồng USD tăng giá và lạm phát kéo dài là hai yếu tố không được mong chờ nhất đối với các nền kinh tế này tại thời điểm hiện tại, bởi chúng có thể đẩy họ đến bờ vực vỡ nợ và khủng hoảng tài chính, tiền tệ.

- Các nước ở khu vực Nam Á đối mặt với rủi ro chung là dự trữ ngoại hối sụt giảm (như hình dưới), đồng nội tệ mất giá, lạm phát và lãi suất tăng cao. Trong những năm gần đây, nợ nước ngoài của các quốc gia này gia tăng đáng kể, trong đó phần lớn là vay từ Trung Quốc. Việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đã làm cạn kiệt ngân sách, và sau đó giá cả hàng hóa tăng vọt do cuộc chiến Nga – Ukraine đã tác động nặng nề đến những nước nhập siêu như Nam Á. Một số chuyên gia đánh giá việc thắt chặt tiền tệ ở Mỹ là rủi ro lớn nhất đối với khu vực này. Đầu năm 2022, Sri Lanka đã tuyên bố vỡ nợ nước ngoài, còn Bangladesh và Pakistan hiện đang tìm kiếm sự hỗ trợ từ IMF.

- Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC): đây là khu vực tạo động lực tăng trưởng chính cho kinh tế thế giới. Đa phần các nước APAC duy trì chính sách tài khoá và tiền tệ thận trọng, do đó có nhiều dư địa để ứng phó với các rủi ro hơn khu vực Nam Á. Tuy vậy, khu vực này có độ mở lớn với toàn bộ nền kinh tế thế giới, từ thị trường hàng hoá, tài chính – tiền tệ tới chuỗi cung ứng, do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các chính sách của FED.

Nhiều quốc gia Đông Nam Á phụ thuộc vào việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển hạ tầng, từ Phillipines, Indonesia, Thái Lan, Lào đến Việt Nam. Lãi suất USD tăng không chỉ làm tăng gánh nặng chi trả nợ vay nước ngoài, mà còn tạo nên làn sóng rút vốn đầu tư ra khỏi khu vực này. Đây là điều vô cùng bất lợi cho họ tại thời điểm này.

APAC tập trung rất nhiều nước phụ thuộc vào xuất khẩu. Để chống lạm phát, FED cần làm giảm tổng cầu của nền kinh tế bằng cách quyết liệt thắt chặt chính sách tiền tệ. Tổng cầu giảm là yếu tố bất lợi tác động trực tiếp lên các nhà xuất khẩu nói trên.

Như vậy, dễ nhận thấy là các chính sách điều hành của FED luôn có sự ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Nhưng trong những giai đoạn lãi suất, tỉ giá USD và lạm phát tăng mạnh như hiện nay, các nước đang phát triển cần đặc biệt thận trọng trong điều hành kinh tế để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ hoặc khủng hoảng tài chính – tiền tệ như đã từng xảy ra trong quá khứ.
---------------

THÔNG ĐIỆP CỦA FED TẠI HỘI NGHỊ JACKSON HOLE 2022---------------1. Hội nghị Jackson Hole là gì?Jackson Hole là một thung...
29/08/2022

THÔNG ĐIỆP CỦA FED TẠI HỘI NGHỊ JACKSON HOLE 2022
---------------

1. Hội nghị Jackson Hole là gì?

Jackson Hole là một thung lũng nổi tiếng thuộc bang Wyoming, Mỹ. Tại đây, một hội nghị chuyên đề kéo dài ba ngày được tổ chức thường niên, quy tụ các nhà kinh tế, nhà hoạch định chính sách và doanh nhân cùng thảo luận về những thuận lợi và khó khăn chính, cũng như triển vọng sắp tới của nền kinh tế thế giới. Người ta lấy tên địa danh Jackson Hole để đặt tên cho hội nghị này.

Hội nghị Jackson Hole lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1978 và tập trung vào nông nghiệp. Năm 1982, hội nghị có sự tham gia của chủ tịch FED khi đó là Paul Volcker, và kể từ đó chuyển sang tập trung vào chính sách tiền tệ.

Được tổ chức vào ngày 25/8 đến 27/8 với chủ đề chính là “Đánh giá lại các hạn chế của nền kinh tế và chính sách”, hội nghị Jackson Hole năm 2022 thu hút rất nhiều sự chú ý do Mỹ (cũng như nhiều nơi khác trên thế giới) đang phải đối mặt với lạm phát tăng cao và nỗi lo về suy thoái kinh tế. Từ đầu năm tới nay, FED đã tăng lãi suất thêm 2,25%, trong đó có hai lần tăng liên tiếp với mức 0,75%. Do vậy, bài phát biểu của chủ tịch FED Jerome Powell tại Jackson Hole năm nay được mong đợi sẽ thể hiện cá c quan điểm điều hành của FED mà chúng ta cần quan tâm.

2. Vậy Jerome Powell đã phát đi thông điệp gì tại Jackson Hole 2022?

Bài phát biểu của Powell ngắn gọn, chỉ kéo dài trong 8 phút với thông điệp chính là: FED phải tiếp tục tăng và duy trì lãi suất ở mức cao hơn cho tới khi họ chắc chắn rằng lạm phát đã nằm trong tầm kiểm soát, dù phải chấp nhận làm chậm nền kinh tế trong một thời gian đáng kể. Powell đã không nói điều gì mới về quan điểm điều hành của FED, nhưng ông đã thể hiện sự quyết liệt và cứng rắn hơn đáng kể so với trước đây.

Các điểm chính trong bài phát biểu của Powell:

• Ổn định giá cả là trách nhiệm của FED và là yếu tố nền tảng của nền kinh tế. Nếu không duy trì được giá cả ổn định, tất cả các thành phần trong nền kinh tế đều sẽ chịu thiệt hại. Lạm phát tác động lên tất cả mọi người, và chính những người có ít khả năng chịu đựng nhất (người có thu nhập thấp) lại là người bị tác động nặng nề nhất bởi lạm phát.

• Sẽ có những tổn thất mà hộ gia đình và doanh nghiệp Mỹ phải chấp nhận. Lãi suất cao hơn, tăng trưởng kinh tế thấp hơn và thị trường lao động ảm đạm hơn sẽ làm hạ nhiệt lạm phát, nhưng cũng đồng thời gây ra một số tổn thất cho hộ gia đình và doanh nghiệp. Đây là cái giá phải trả cho việc kiểm soát lạm phát, nếu không thiệt hại do lạm phát mang lại sẽ lớn hơn rất nhiều.

• FED cần phải đưa lạm phát của Mỹ về mức mục tiêu 2%. Việc này sẽ cần thời gian, và khả năng cao là sẽ có thêm một đợt tăng lãi suất lớn nữa trong tháng 9 này. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lại lên mức trên 3% - một dấu hiệu phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư cho thông tin trên. Từ nay cho tới cuối năm 2022, FED có thể tăng lãi suất thêm tổng cộng 1 – 1,25%.

• Hiện tại, rất khó để dự đoán chính xác khi nào FED sẽ dừng tăng lãi suất. Không giống như các dự báo cho rằng FED có thể bắt đầu cắt giảm lãi suất từ đầu năm 2023, Powell đã cho thấy quyết tâm của FED trong việc duy trì lãi suất ở mức cao cho tới khi nào họ chắc chắn lạm phát đã được kiểm soát.

3. Nhà đầu tư nên hành động như thế nào?

Những quan điểm mà Jerome Powell đưa ra tại Jackson Hole không có gì mới so với những phát biểu công khai trước đó của ông. Do đó, chúng đều đã được lan truyền và bàn luận rộng rãi trên khắp thị trường với thời gian đủ lâu. Chúng tôi tin rằng thị trường chứng khoán Mỹ (cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam) đủ hiệu quả để đã phản ánh hết những thông tin nói trên vào giá cổ phiếu. Vì thế đã quá muộn để thực hiện các giao dịch nhằm kiếm lợi (hoặc né tránh thiệt hại) từ các thông tin đó. Chúng ta không thể kiếm lời bằng các thông tin đã nằm ở quá khứ.

Đối với những nhà đầu tư có tầm nhìn dài hạn, chúng tôi cho rằng những diễn biến có thể xảy ra trong thời gian tới như việc FED nâng lãi suất lên 4% (hoặc hơn), nền kinh tế Mỹ (và thế giới) tăng trưởng chậm trong một thời gian đáng kể nữa, hay chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục bị gián đoạn do chiến tranh Nga – Ukraine và chính sách zero-Covid của Trung Quốc… đều đã nằm trong kỳ vọng của họ, và họ đã có một danh mục đầu tư với cơ cấu phù hợp với kỳ vọng đó. Do vậy, những thông tin từ hội nghị Jackson Hole vừa qua không yêu cầu nhà đầu tư dài hạn phải cơ cấu lại danh mục, thậm chí nó còn củng cố thêm cho vị thế danh mục của họ. Việc cần làm là bình tĩnh, tiếp tục theo dõi những diến biến sắp tới và sẵn sàng hành động khi cần thiết.
---------------

Nguồn: Barron’s, The Wall Street Journal, LST Consulting

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ----------------Phần 3 - Mỹ cần làm gì để duy tr...
18/08/2022

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ
----------------
Phần 3 - Mỹ cần làm gì để duy trì vị thế dẫn đầu? (phần cuối)
----------------
Nhiệm vụ cuối cùng của chính sách phát triển ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ là thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI.

Có một quan điểm cho rằng chip của Mỹ nên được sản xuất tại Mỹ bởi các công ty Mỹ. Nhưng trên thực tế, các công ty nước ngoài sản xuất chip ở Mỹ cũng quan trọng không kém. Khi nói đến thiết kế chip, Mỹ hoàn toàn chiếm ưu thế. Nhưng khi nói đến việc chế tạo chip (chế tạo vật lý), các nước đồng minh là Đài Loan và Hàn Quốc lại đang dẫn đầu. Một ví dụ điển hình là trong những năm gần đây công ty chip TSMC của Đài Loan đã vươn lên dẫn trước Intel về công nghệ sản xuất chip.

Đây không phải là một thảm họa - không có lý do gì mà Mỹ phải chi phối mọi công đoạn của chuỗi cung ứng chip, và đây lại là những quốc gia đồng minh của Mỹ. Vấn đề là Đài Loan rất dễ bị Trung Quốc phong tỏa nếu chiến tranh nổ ra, và Hàn Quốc rất dễ bị Triều Tiên tấn công. Vì vậy, thuyết phục được TSMC và Samsung xây nhà máy ở Mỹ là việc cực kỳ quan trọng để bảo vệ chuỗi cung ứng của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột.

Thực tế thì TSMC đang xây dựng một nhà máy ở Arizona, và Samsung cũng đang xây dựng một nhà máy ở Austin, Texas. Nhưng chủ nghĩa NIMBY (viết tắt của “Not in my back yard”, theo đó người dân có xu hướng phản đối các dự án công nghiệp xây gần khu vực sinh sống của họ vì các vấn đề ô nhiễm, tiếng ồn…) sẽ là một vấn đề lớn đối với cả doanh nghiệp Mỹ và doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, các chính sách mới cũng nên quan tâm đến vấn đề này. Đồng thời, người Mỹ cần coi việc doanh nghiệp từ các nước đồng minh xây nhà máy ở Mỹ là một cách để đảm bảo cho chuỗi cung ứng của mình.

Dù sao đi nữa, đạo luật CHIPS cũng là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự tái sinh của chính sách phát triển công nghiệp của Mỹ sau một thời gian dài bị lãng quên. Tất nhiên, chỉ mình đạo luật này thôi là chưa đủ, nhưng đây cũng là một khởi đầu đáng khích lệ.
----------------
Nguồn: LST Consulting tổng hợp, Noahpinion

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ----------------Phần 3 - Mỹ cần làm gì để duy tr...
17/08/2022

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ
----------------
Phần 3 - Mỹ cần làm gì để duy trì vị thế dẫn đầu?
----------------
Trong bài viết “Tại sao Mỹ sẽ thua trong mảng sản xuất chất bán dẫn” của Dylan Patel có viết: Cho đến nay, Trung Quốc là nước xây dựng nhiều nhà máy sản xuất chất bán dẫn nhất, nhờ các chính sách ưu đãi thuế, quy định thoáng cùng nguồn trợ cấp khổng lồ từ chính phủ. Trong khi đó, Mỹ chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng mức đầu tư cho ngành công nghiệp này của toàn thế giới. Nếu tiếp tục như vậy, chỉ trong mười năm nữa thị phần sản xuất chất bán dẫn của Mỹ sẽ chỉ còn khoảng 10%, trong khi thị phần của Trung Quốc sẽ là 30%.

Các quy định về thuế và chính sách quản lý của Mỹ khiến việc đầu tư sản xuất chất bán dẫn tại Mỹ trở nên vô cùng khó khăn. Cần tiêu tốn cả núi tiền bạc và thời gian chỉ để hoàn tất quá trình cấp phép và phê duyệt cho một dự án ở Mỹ. Mặc dù mang danh là để bảo vệ môi trường, các chính sách này thực thế không đạt được mục tiêu đó. Chúng chỉ làm chậm tiến độ và gia tăng chi phí. Lỗ hổng trong chính sách này là lý do mà Micron - công ty sản xuất bộ nhớ lớn nhất có trụ sở tại Mỹ - phải đặt nhà máy sản xuất ở nước ngoài. Micron hiện sản xuất phần lớn chip nhớ của mình tại Singapore và Đài Loan.

Ngoài việc cải cách các chính sách thuế và quản lý, Patel đề xuất tăng cường các gói hỗ trợ và ưu đãi như các quốc gia khác (đặc biệt là Trung Quốc) đã làm. Đây cũng chính là mục tiêu trọng tâm của Đạo luật CHIPS. Nhưng không chỉ là hỗ trợ cho các công ty sản xuất lớn như Intel, chính phủ Mỹ cần phải làm nhiều hơn nữa. Để duy trì vị thế dẫn đầu, họ cần phải (1) khuyến khích, hỗ trợ các công ty khởi nghiệp trong nước và (2) thu hút công ty từ các nước đồng minh đặt nhà máy của họ tại Mỹ.

Đạo luật CHIPS đem lại một khoản tiền dồi dào cho các nhà sản xuất chip. Các công ty lớn rõ ràng sẽ có lợi thế hơn để tiếp cận với nguồn vốn này. Nhưng nhìn lại về quá khứ, cách thức mà Mỹ dùng để chiếm lợi thế trong ngành sản xuất chất bán dẫn vào những năm 1990 đáng để chúng ta suy ngẫm.

Vào những năm 1980, ngành công nghiệp sản xuất chip nhớ của Nhật Bản bắt kịp với công nghệ của Mỹ và bắt đầu chiếm thị phần của Mỹ. Chính phủ Mỹ, với thiên hướng theo chủ nghĩa bảo hộ hơn nhiều so với bây giờ, cảm thấy lo sợ và mở đầu một cuộc chiến thương mại. Nhưng đã quá muộn để Mỹ có thể cứu vãn ngành sản xuất chip nhớ nội địa. Thị phần của Mỹ trong mảng chip nhớ không thể hồi phục lại sau cú sụt giảm vào đầu những năm 80. Nhật Bản giữ vị trí dẫn đầu trong vài năm cho đến khi bị Hàn Quốc vượt mặt. Tuy nhiên, Mỹ đã chiếm lại được vị trí dẫn đầu trong thị trường bán dẫn toàn cầu. Bởi vì, trong khi thế giới đang đua nhau sản xuất chip nhớ, các công ty của Mỹ như Intel đã chuyển sang sản xuất một thứ có giá trị hơn nhiều – đó là vi xử lý (CPU). CPU đã đem lại bộn tiền cho Mỹ trong khi các nước châu Á vẫn đang cạnh tranh khốc liệt trong thị trường chip nhớ có biên lợi nhuận thấp.

Đổ tiền vào các công ty lớn như Intel sẽ giúp Mỹ duy trì năng lực cạnh tranh với Trung Quốc, nhưng việc này cũng có một số hạn chế.

Thứ nhất, quá tập trung hỗ trợ các công ty lớn sẽ khiến các công ty khởi nghiệp có tiềm năng đột phá khó gia nhập ngành.

Thứ hai, tiền đầu tư không mang lại hiệu quả khi được rót vào các công ty này mặc cho việc họ đã đưa ra các quyết định quản trị sai lầm (sự quản trị yếu kém của những công ty như Intel là một trong những lý do khiến Mỹ đánh mất vị trí dẫn đầu).
Và thứ ba, câu chuyện về cách Intel vươn tới vị thế thống trị chỉ ra rằng những thành tự lớn nhất của ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ có thể không đến từ những công ty đã trưởng thành đang cố gắng duy trì vị thế sẵn có của mình, mà đến từ những công nghệ mới mang tính đột phá và thay thế công nghệ cũ. Vị thế hiện tại của Intel cho phép họ tiếp cận nguồn vốn với chi phí rẻ, trong khi các công ty khởi nghiệp cần thêm rất nhiều sự hỗ trợ để mở rộng quy mô.

Thống kê cho thấy Trung Quốc đang tài trợ số tiền rất lớn cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn (bảng dưới). Mỹ cũng nên làm điều tương tự. Rất nhiều công nghệ mới được tạo ra bởi các công ty khởi nghiệp, và điều chính phủ Mỹ cần làm là tạo điều kiện để các công ty này mở rộng quy mô. Đạo luật CHIPS được kỳ vọng sẽ làm được điều này. Nếu không, chính phủ Mỹ cần thông qua thêm một đạo luật mới, tập trung chủ yếu vào các công ty khởi nghiệp.
(còn tiếp)
----------------
Nguồn: LST Consulting tổng hợp, Noahpinion

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ-------------------Phần 2 - Thách thức từ Trung ...
16/08/2022

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ
-------------------
Phần 2 - Thách thức từ Trung Quốc
-------------------
Trong thập niên 80, với mục tiêu duy trì vị thế dẫn đầu trong mảng sản xuất chất bán dẫn, chính phủ Mỹ đã thành lập SEMATECH – một liên minh các công ty sản xuất chip của Mỹ. Nhưng mối đe dọa hiện tại lớn hơn trước rất nhiều, vì đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Mỹ tại thời điểm đó là Nhật – vốn là đồng minh của Mỹ. Hàn Quốc và Đài Loan - hai quốc gia đang cạnh tranh gay gắt với những công ty Mỹ như Intel - cũng là đồng minh của Mỹ. Nhưng từ những năm gần đây, Trung Quốc chính là mối đe dọa lớn nhất cho vị trí thống trị ngành công nghiệp bán dẫn, và là đối thủ nặng ký nhất của Mỹ trong (cái có thể gọi là) Chiến tranh lạnh lần thứ hai. Do đó, Mỹ càng phải chú trọng tới các chính sách phát triển công nghiệp hơn.

Hiện tại, Mỹ và các nước đồng minh (và các nước tương tự đồng minh) đang giữ vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn. Dưới đây là biểu đồ về thị phần sản xuất chất bán dẫn của các nước năm 2020 theo Hiệp hội Công nghiệp bán dẫn (hình 1).

Và khi xem xét theo từng ngành nhỏ, Trung Quốc chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong các mảng như lắp ráp, đóng gói có giá trị gia tăng thấp, và thậm chí còn không dẫn đầu (hình 2). Điều này cho thấy một điểm yếu chiến lược lớn của Trung Quốc đó là năng lực sản xuất của nước này - bao gồm công nghiệp quốc phòng - phụ thuộc rất lớn vào nguồn chip nhập khẩu.

Vì vậy, trong vài năm trở lại đây, chính phủ Trung Quốc đã cho thấy quyết tâm rất lớn để đạt được mục tiêu tự chủ vật liệu bán dẫn. Họ rất muốn hoàn thiện toàn bộ chuỗi cung ứng chất bán dẫn của mình.

Gần đây, nhà sản xuất chip hàng đầu của Trung Quốc là SMIC đã công bố một bước đột phá lớn: sản xuất thành công chip tiến trình 7nm. Mặc dù SMIC chỉ sản xuất những con chip này với số lượng nhỏ, và có thể đã sao chép công nghệ của nhà sản xuất chip Đài Loan TSMC, nhưng đây vẫn là một bước tiến quan trọng với Trung Quốc. Sẽ rất thiếu sót nếu đánh giá thấp khả năng học hỏi của Trung Quốc trong mảng sản xuất chất bán dẫn – điều đã được chứng minh trong hầu hết lĩnh vực sản xuất khác.

Mỹ có thể đối phó bằng cách ngăn cản Trung Quốc tiếp cận với công nghệ quang khắc cực tím (EUV) – công nghệ cần thiết để sản xuất ra loại chip tiên tiến hơn chip 7nm. Như biểu đồ ở trên, các thiết bị chuyên dụng để sản xuất chất bán dẫn vẫn được sản xuất chủ yếu ở Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. SMIC và các công ty sản xuất chip Trung Quốc khác đã tìm cách mua máy EUV từ một công ty Hà Lan có tên là ASML, nhưng Mỹ đã kịp can thiệp và ngăn chặn giao dịch này.

Nhưng việc ngăn cấm này khó mà duy trì được mãi, Trung Quốc rồi cũng sẽ tìm được cách để mua hoặc đánh cắp công nghệ này. Trong dài hạn, điều mà Mỹ và các nước đồng minh cần làm là phải đi trước Trung Quốc về mặt công nghệ.
(còn tiếp)
-------------------
Nguồn: LST Consulting tổng hợp, Noahpinion

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ ----------------Phần 1 - Tại sao Mỹ lại chọn ng...
15/08/2022

VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN DẪN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỸ
----------------
Phần 1 - Tại sao Mỹ lại chọn ngành công nghiệp bán dẫn làm bước khởi đầu cho chính sách phát triển công nghiệp
----------------
Một tin cực kỳ quan trọng về chính sách phát triển công nghiệp: Thượng viện Mỹ vừa thông qua Đạo luật CHIPS – một đạo luật nhằm hồi sinh ngành công nghiệp bán dẫn của nước này. Gói trợ cấp 52 tỉ USD sẽ được cung cấp đến các nhà sản xuất chip của Mỹ để xây dựng các nhà máy, đào tạo công nhân, nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Ngoài ra còn có thêm các khoản hỗ trợ về thuế và các ưu đãi khác.

Nếu xét về quy mô thì gói trợ cấp này không quá lớn. Xây dựng một nhà máy sản xuất hàng đầu tiêu tốn khoảng 10 – 20 tỷ USD, đồng nghĩa với việc gói trợ cấp trên chỉ đủ để đầu tư từ 2 đến 4 nhà máy loại này. Trong khi đó, TSMC - công ty sản xuất chip hàng đầu thế giới của Đài Loan - có khoản đầu tư lớn gấp đôi chính phủ Mỹ để xây dựng nhà máy mới trong 3 năm tới. Bên cạnh đó, tổng số vốn đầu tư mà Apple đã đổ vào Trung Quốc các năm gần đây (chủ yếu không phải cho chất bán dẫn mà cho các mặt hàng sản xuất khác) đạt 275 tỷ USD – hơn gấp 5 lần gói hỗ trợ của Đạo luật CHIPS. Nhưng đạo luật CHIPS vẫn có ý nghĩa lớn vì nó phản ánh sự đồng thuận của lưỡng đảng trong Quốc hội Mỹ về mục tiêu xây dựng lại chiến lược phát triển công nghiệp của nước này.

Vậy tại sao Mỹ lại chú trọng đến việc thúc đẩy ngành công nghiệp bán dẫn đến mức phải thay đổi chính sách phát triển công nghiệp?

Một số lý do điển hình có thể kể đến như bảo vệ ngành công nghiệp cốt lõi khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài, hay lo ngại nếu ngành bán dẫn suy yếu thì các ngành phụ thuộc vào nó sẽ rơi vào lao đao... Nhưng lý do quan trọng hơn cả là: Chất bán dẫn cực kỳ quan trọng trong quốc phòng.

Nhìn lại hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỉ 20, phương thức chiến đấu khi đó là tập trung nhiều nhất có thể hỏa lực - bom, tên lửa, đạn pháo – vào một khu vực chỉ định trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Phương thức chiến tranh này đòi hỏi năng lực sản xuất vũ khí phải vượt trội so với đối thủ (đây là lý do Mỹ đã chiến thắng trong cuộc chiến). Năng lực sản xuất vũ khí chính là chìa khóa. Nhưng khi đến thời kỳ Chiến tranh lạnh và sự xuất hiện của chip vi tính, một phương thức chiến tranh khác ra đời – chiến tranh thông minh. Thay vì san phẳng một khu vực bằng hỏa lực ồ ạt và hy vọng đánh trúng kẻ địch, giờ đây nhiệm vụ có thể được giao cho các loại vũ khí thông minh có khả năng tự tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu đã định trước.

Vũ khí thông minh có thể lợi hại đến vậy là vì một nguyên lý đơn giản: lực sát thương (lên mục tiêu) giảm rất nhanh khi khoảng cách từ vụ nổ đến mục tiêu tăng lên (bức xạ nhiệt giảm theo bình phương khoảng cách và sóng xung kích giảm theo lập phương khoảng cách). Do đó, chế tạo ra loại vũ khí có độ chính xác cao gấp 10 lần tương đương với việc nâng sức công phá lên gấp 100 – 1000 lần. Tính ưu việt của vũ khí thông minh chính là một trong những lý do tên lửa HIMARS do Mỹ sản xuất lại hiệu quả đến vậy khi chiến đấu với Nga trong cuộc chiến Nga – Ukraine, dù chỉ được phóng một số lượng nhỏ.

Một lý do khác khiến vũ khí thông minh đáng sợ là chúng có thể bắn trúng mục tiêu đang di chuyển từ khoảng cách rất xa. Máy bay chiến đấu, xe tăng, tàu chiến và các phương tiện bọc thép khác đều không thể an toàn khi mà tên lửa có thể đoán được hướng di chuyển của chúng. Đây là lý do tại sao tên lửa tự dẫn Javelins và Stingers do Mỹ sản xuất đã trở thành ác mộng với xe tăng, máy bay quân sự và tàu chiến của quân đội Nga trong cuộc chiến Nga - Ukraine.

Chip là thành phần trọng yếu cho cả cơ chế hoạt động của vũ khí thông minh và cơ chế né tránh chúng, bao gồm hệ thống dẫn đường, chụp ảnh, các loại cảm biến,… Do đó chip là bộ phận rất quan trọng trong các phương tiện quân sự hiện đại (đặc biệt như máy bay không người lái - vốn ngày càng được sử dụng nhiều trong chiến tranh). Đồng thời, chip cũng là thứ hoàn toàn không thể thiếu trên các mặt trận khác của chiến tranh hiện đại: chiến tranh mạng, vệ tinh, thông tin liên lạc, mã hóa...

Với vai trò cực kỳ quan trọng của chip trong các cuộc chiến tranh hiện đại, một quốc gia sẽ gần như mất khả năng tự vệ nếu cạn kiệt nguồn cung cấp chip trong thời chiến. Nếu để nguồn chip phụ thuộc vào Đài Loan và Hàn Quốc, chuỗi cung ứng chip sẽ rất dễ bị tổn thương trong trường hợp Trung Quốc tiến hành phong tỏa, gây cản trở giao thương. Do đó, mà Mỹ - một quốc gia luôn đặt quốc phòng là ưu tiên hàng đầu – đang tìm cách thúc đẩy ngành công nghiệp bán dẫn của mình.
(còn tiếp)
----------------
Nguồn: LST Consulting tổng hợp, Noahpinion

Address

15 Nguyễn Lương Bằng Phường Tân Phú Quận 7
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when LST Consulting posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share